Khuyến cáo áp dụng các giải pháp canh tác lúa tiết kiệm chi phí và giảm phát thải (Dành riêng cho vùng chuyên canh lúa tỉnh An Giang)
Trong bối cảnh giá vật tư nông nghiệp, đặc biệt là phân bón hóa học dự báo tiếp tục biến động và duy trì ở mức cao trong vụ Hè Thu 2026. Nhằm đảm bảo lợi nhuận cho người sản xuất; đồng thời thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn liền với giảm phát thải khí nhà kính; Sở Nông nghiệp và Môi trường khuyến cáo áp dụng các giải pháp kỹ thuật sau:

1. Về giống và mật độ gieo sạ
- Mật độ gieo sạ hợp lý: Khuyến khích áp dụng sạ hàng, sạ cụm hoặc cấy máy để tiết kiệm giống. Lượng giống khuyến cáo từ 40 – 70kg/ha (Sạ hàng/sạ cụm: dưới 70kg/ha; Cấy máy: 40kg/ha). Việc giảm mật độ sạ là cơ sở cắt giảm lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV).
- Lựa chọn giống: Sử dụng giống xác nhận, có khả năng chống chịu phèn mặn tốt để thích ứng với điều kiện đầu vụ Hè Thu 2026 như: OM18, OM5451, DS1, ST24, ST25....
2. Quản lý phân bón hiệu quả và tiết kiệm
Việc bón phân cần tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tăng hiệu quả sử dụng để tránh lãng phí:
- Điều chỉnh pH đất: Chỉ số pH đóng vai trò then chốt trong việc điều tiết khả năng hấp thụ NPK. Khi pH không ở mức tối ưu, cây lúa không thể hấp thụ triệt để dưỡng chất, gây lãng phí và ô nhiễm môi trường.
+ Kiểm tra pH định kỳ: Sử dụng máy đo hoặc giấy quỳ để xác định tình trạng đất trước mỗi vụ.
+ Cải tạo đất: Nâng pH lên mức tối ưu (6.0 - 6.5) bằng vôi bột (CaCO3), vôi nung (CaO) hoặc các sản phẩm chứa Acid Humic/Fulvic để giải phóng dinh dưỡng bị cố định. Việc đưa pH về mức thích hợp có thể giúp tiết kiệm đến 50% lượng phân NPK.
- Sử dụng phân bón thông minh: Ưu tiên phân bón nhả chậm (SRF) hoặc phân bón có kiểm soát để giảm số lần bón và hạn chế thất thoát do bay hơi, rửa trôi (giúp giảm tới 20% lượng đạm). Sử dụng phân bón Nano giúp tăng khả năng hấp thụ, có thể giảm một nửa lượng phân bón so với Urê thông thường.
- Bổ sung hữu cơ: Sử dụng phân hữu cơ thương mại hoặc phân chuồng ủ hoai mục để bón lót, giúp ổn định pH đất. Tỷ lệ thay thế phân hóa học bằng phân hữu cơ nên đạt từ 20% - 30%.
3. Nguyên tắc bón phân và tận dụng phụ phẩm để tiết kiệm chi phí
- Nâng pH về ngưỡng thích hợp (6-6,5) cho cây lúa bằng cách bón vôi với liều 200 – 500kg/ha ngay trước khi gieo sạ.
- Tận dụng Lân và hữu cơ bón lót: Giúp hệ rễ phát triển mạnh, tăng hiệu quả hấp thụ Urê và Kali ở giai đoạn sau, giảm thất thoát 15-20%.
- Kỹ thuật giữ nước: Khi bón phân, giữ mực nước ruộng 3-5cm liên tục sau 3-5 ngày, sau đó để nước khô tự nhiên (dưới -3cm mới bơm nước vào) cho rễ thông thoáng và hấp thu phân bón tốt.
- Quản lý rơm rạ: Tuyệt đối không đốt rơm. Sử dụng chế phẩm phân hủy xenlulozơ (như Trichoderma, Bacillus,…) cày vùi rơm rạ ngay sau thu hoạch giúp cung cấp Kali và chất hữu cơ, giảm 10-20% lượng phân hóa học vụ sau.
4. Quản lý nước giảm phát thải
Áp dụng tưới nước ngập khô xen kẽ (AWD) để giúp cây lúa cứng cáp và giảm phát thải khí nhà kính:
- Trước làm đất: Rút nước từ 10 - 15 ngày.
- Sau gieo sạ: Giữ ẩm từ ngày 1-7.
- Giai đoạn đẻ nhánh đến trước trổ: Rút nước tối thiểu 02 lần (mỗi lần sau bón phân 5-7 ngày). Đảm bảo ruộng khô tối thiểu 03 ngày liên tục (mực nước xuống âm 10 - 15cm so với mặt ruộng) trước khi cho nước vào lại.
- Trước thu hoạch: Rút nước từ 7 - 15 ngày.
5. Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
- Thăm đồng thường xuyên, áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại theo hướng dẫn chuyên ngành.
- Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tuân thủ nguyên tắc "4 đúng": đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ - liều lượng và đúng cách.
- Ưu tiên thuốc có nguồn gốc sinh học, thảo mộc và luân phiên hoạt chất để tránh kháng thuốc.
6. Thu hoạch và quản lý rơm rạ sau thu hoạch
- Thu hoạch khi lúa chín từ 85-90%.
- Xử lý rơm: Ưu tiên thu gom bằng máy cuốn rơm để làm nấm, thức ăn gia súc hoặc sản phẩm thủ công.
Trường hợp không thể thu gom (do mưa, ngập), cần rút nước khỏi ruộng trước khi cày vùi và sử dụng chế phẩm sinh học để phân hủy.
Lưu ý: Khuyến cáo này cần được tích hợp với Quy trình sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL theo Quyết định số 4043/QĐ-TT-BVTV ngày 10/11/2025 của Cục Trồng trọt và BVTV.
Thanh Tú